Triệu Chứng Bệnh Cháy Rạ

      11

Thủy đậu là một bệnh lý truyền nhiễm hay gặp tại Việt Nam. Hiện nay, nhiều người vẫn chưa hiểu biết đúng đắn về bệnh lý này. Biểu hiện phát ban toàn thân thường khiến người bệnh lo lắng. Điều trị không đúng cách bằng các bài thuốc dân gian đôi khi khiến bệnh trở nên trầm trọng hơn. Bên cạnh đó, việc hiểu biết về thủy đậu có thể giúp mọi người phòng bệnh một cách hiệu quả hơn. Hãy cùng Thạc sĩ, Bác sĩ Đặng Văn Trị tìm hiểu qua bài viết sau. 


Tổng quan bệnh thủy đậu

Thủy đậu (chickenpox) là một bệnh lý truyền nhiễm gây ra bởi Varicella-zoster virus (VZV). Bệnh lây lan thông qua đường hô hấp hay tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết chứa virus của người đang mắc bệnh.1

Biểu hiện lâm sàng đặc trưng của bệnh là phát ban dạng bóng nước toàn thân ở da và niêm mạc. Bệnh có thể được phòng ngừa được bằng vắc-xin.1

Phần lớn bệnh nhân mắc thủy đậu thường tự khỏi trong 1 – 2 tuần. Tuy nhiên, một số trường hợp có thể diễn tiến nặng đe dọa tính mạng do các biến chứng như nhiễm trùng da, viêm phổi, viêm não – màng não.1

Nguyên nhân bệnh thủy đậu

Varicella-zoster virus là tác nhân gây ra bệnh thủy đậu. Virus này là một trong các virus thuộc họ Herpesviridae, có bộ gen là 2 chuỗi DNA.

Bạn đang xem: Triệu chứng bệnh cháy rạ

Nguồn lây bệnh duy nhất là người đang mắc bệnh. Nói cách khác, bệnh chỉ lây từ người sang người thông qua 2 con đường chính:

1. Nguyên nhân trực tiếp

Do tiếp xúc với dịch tiết chứa virus từ người đang mắc bệnh (nước bọt, dịch từ bóng nước vỡ).


2. Nguyên nhân gián tiếp

Thông qua đường hô hấp do hít phải các giọt bắn tạo ra trong lúc người bệnh ho, hắt hơi.

*
*
*
*
*
Bóng nước trong thủy đậu bội nhiễm vi khuẩn (có mủ trắng)

Chẩn đoán và điều trị thủy đậu

Phương pháp chẩn đoán

Khi một cá nhân mới phát ban mà không giải thích được, đặc biệt có kèm theo biểu hiện giống như cảm cúm hoặc sốt thì nên đến gặp bác sĩ để được thăm khám và chẩn đoán phù hợp.

Thăm khám

Trên thực tế, hầu như các bác sĩ sẽ chẩn đoán thủy đậu dựa trên việc hỏi bệnh sử một cách tỉ mỉ (trình tự các triệu chứng, đặc điểm diễn tiến phát ban, yếu tố tiếp xúc gần với người có nổi bóng nước hay sốt gần đây) kết hợp với việc thăm khám mô tả kỹ càng các sang thương da (bóng nước nổi ở đâu trước, trình tự lan như thế nào, màu sắc, kích thước bao nhiêu, có ngứa hay không…). Việc thực hiện các xét nghiệm thường không cần thiết để giúp chẩn đoán.3

Chính vì vậy, bệnh nhân khi đến khám cần phải cố gắng mô tả cụ thể chi tiết các biểu hiện của bản thân để việc chẩn đoán được chính xác và dễ dàng hơn.

Các xét nghiệm cần thực hiện

Khi bác sĩ nghi ngờ bệnh nhân có những biểu hiện biến chứng nặng của bệnh hoặc đặc điểm bóng nước không điển hình thì một số xét nghiệm sau có thể cần được thực hiện:

Công thức máu và CRP (C – reactive protein) để đánh giá mức độ nặng và khả năng bội nhiễm vi khuẩn.PCR (polymerase chain reaction) dịch bóng nước để tìm VZV trong trường hợp chẩn đoán khó do đặc điểm bóng nước không điển hình hoặc trong trường hợp bệnh mức độ nguy kịch cần phải có chẩn đoán chính xác để điều trị bổ sung phù hợp.Soi phết dịch bóng nước tìm vi khuẩn trong trường hợp nghi ngờ bội nhiễm da (bóng nước sưng đỏ, nóng, căng đau).X-quang phổi để đánh giá viêm phổi.Chụp MRI (cộng hưởng từ) sọ não trong trường hợp nghi viêm não.

Những cách điều trị bệnh thủy đậu

Phần lớn bệnh nhân mắc thủy đậu sẽ tự giới hạn bệnh trong 5 – 7 ngày nên không cần sử dụng thuốc đặc trị (thuốc kháng siêu vi). Điều trị triệu chứng như hạ sốt, giảm ngứa giúp bệnh nhân giảm nhẹ cảm giác khó chịu là chính yếu.

Tuy nhiên, đối với những bệnh nhân có nguy cơ cao bị biến chứng của thủy đậu như trẻ sơ sinh, phụ nữ mang thai, người cao tuổi, người nhiễm HIV/AIDS, người đang hóa trị ung thư, sử dụng corticoid hay suy giảm miễn dịch… thì việc điều trị bằng thuốc kháng siêu vi là cần thiết.

Thuốc kháng siêu vi thường có hiệu quả cao nhất khi được sử dụng trong vòng 24 giờ kể từ lúc bắt đầu phát ban. Việc điều trị này có thể giúp giảm nguy cơ bệnh diễn tiến nặng đến biến chứng cũng như giúp rút ngắn thời gian nhiễm bệnh.4

Các thuốc kháng siêu vi có thể sử dụng để điều trị thủy đậu là acyclovir, valacyclovir, famciclovir.

Xem thêm: Cách Lưu Mật Khẩu Trên Google Chrome Đơn Giản, Nhanh Nhất, Quản Lý Mật Khẩu

Theo hướng dẫn của Bộ Y tế (2016), thủy đậu có thể được điều trị bằng acyclovir như sau:5

Trường hợp người bệnh chưa có biến chứng nặng có thể sử dụng acyclovir đường uống với liều là 800 mg x 5 lần/ngày trong 5 – 7 ngày (20 mg/kg x 4 lần ngày đối với trẻ Trường hợp bệnh nhân có suy giảm miễn dịch nặng, thủy đậu có biến chứng viêm não ưu tiên điều trị acyclovir đường truyền tĩnh mạch với liều là 20 mg/kg x 3 lần ngày trong 7 ngày.

Các lưu ý khi điều trị thủy đậu

Bệnh nhân khi mắc thủy đậu cần lưu ý các điểm quan trong sau đây:6

Không được gãi các nốt đậu vì điều này gây bội nhiễm vi khuẩn hoặc khiến tạo sẹo sau khi khỏi bệnh.Không nên tiếp xúc gần với trẻ sơ sinh, phụ nữ có thai, người suy giảm miễn dịch vì đây là những đối tượng dễ mắc bệnh nặng.

Dự phòng bệnh thủy đậu

Giống như nhiều bệnh lý truyền nhiễm khác, thủy đậu có thể phòng ngừa được bằng nhiều phương thức khác nhau.

Tiêm phòng vắc-xin

Tiêm phòng vắc-xin ngừa thủy đậu là phương thức phòng ngừa đơn giản và hiệu quả nhất cho đến hiện nay. Tiêm vắc-xin giúp cơ thể chủ động tạo ra kháng thể sẵn sàng chống lại virus mỗi khi tiếp xúc (miễn dịch chủ động).

Vắc-xin thủy đậu là một vắc-xin sống giảm độc lực, được chỉ định cho tất cả trẻ 1 – 12 tuổi (tiêm 1 liều duy nhất) và người lớn (tiêm 2 liều cách nhau 1 tháng) chưa có kháng thể với virus. Vắc-xin thủy đậu có tính an toàn và hiệu quả cao.5

Cần lưu ý, hiệu quả bảo vệ của vắc-xin thủy đậu khoảng 90 – 95%. Do đó, một số ít trường hợp vẫn có thể bị mắc thủy đậu sau tiêm ngừa (bệnh thường nhẹ và mau hồi phục hơn so với người chưa từng tiêm vắc- xin).3

Vắc-xin thủy đậu là vắc-xin sống giảm độc lực, nhóm đối tượng bệnh nhân sau đây không nên tiêm vắc-xin thủy đậu do có thể bị nhiễm bệnh liên quan đến tiêm vắc-xin:3 7

Bệnh nhân đang mắc các bệnh lý nặng nguy kịch.Bệnh nhân dự định có thai trong vòng 30 ngày sắp tới.Bệnh nhân đang hóa trị hoặc xạ trị ung thư.Bệnh nhân đang sử dụng corticoid.Bệnh nhân suy giảm miễn dịch nặng, như nhiễm HIV.Bệnh nhân vừa truyền máu gần đây.

Huyết thanh kháng thủy đậu

Huyết thanh kháng thủy đậu (VZIG – varicella zoster immune globulin) là một loại kháng thể được chiết xuất từ huyết thanh của người đã có miễn dịch với virus. Sử dụng VZIG cung cấp ngay lập tức cho cơ thể một lượng kháng thể chống lại virus.

VZIG được chỉ định cho người có nguy cơ biến chứng nặng do thủy đậu. Sử dụng VZIG sớm, trong vòng 72 giờ, sau khi tiếp xúc với nguồn bệnh thì mới đảm bảo được hiệu quả bảo vệ.5

Dự phòng không đặc hiệu

Thủy đậu lây lan thông qua đường hô hấp hay tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết chứa virus của người đang mắc bệnh. Hiểu được cách thức lây bệnh, mọi người có thể phòng bệnh bằng cách tránh tiếp xúc gần với người mắc bệnh. Trường hợp có tiếp xúc thì nên đeo khẩu trang và rửa tay lại bằng xà phòng cũng như vệ sinh môi trường xung quanh bằng các dung dịch có tính sát khuẩn.

Tóm lại, thủy đậu là một bệnh lý truyền nhiễm do Varicella-zoster virus gây ra. Bệnh lây từ người sang người và có biểu hiện đặc trưng là phát ban dạng bóng nước toàn thân.

Trong phần lớn trường hợp, bệnh thường tự giới hạn nên việc điều trị triệu chứng là chủ yếu. Thủy đậu đôi khi có thể diễn tiến đến biến chứng nặng ở đối tượng trẻ sơ sinh, phụ nữ mang thai, người cao tuổi, suy giảm miễn dịch, đang hóa trị ung thư… Acyclovir là thuốc được lựa chọn trong điều trị thủy đậu ở những bệnh nhân nặng.

Trên đây là những thông tin về bệnh thủy đậu. Thủy đậu có thể phòng ngừa hiệu quả bằng vắc-xin cũng như các biện pháp vệ sinh đơn giản khác như tránh tiếp xúc gần với người bệnh, đeo khẩu trang y tế, rửa tay thường xuyên, dọn dẹp nhà cửa…

thuốc lenvima 4mg