Các bệnh thường gặp ở bò

      32

bhxhhaiphong.vn – Việt Nam là đất nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa, quanh năm nóng ẩm nên là điều kiện thuận lợi cho việc sinh sôi, phát triển của nhiều loại nấm mốc, vi khuẩn, côn trùng trung gian truyền các bệnh. Bệnh dễ xâm nhập và lây lan nhanh, kể cả loài có sức khỏe như trâu bò cũng không tránh khỏi, gây thiệt hại về kinh tế cho người chăn nuôi.

Bạn đang xem: Các bệnh thường gặp ở bò


Các bệnh thường gặp ở trâu bò rất dễ bùng phát vào 2 mùa chính, đó là mùa hè và mùa đông. Bởi vì, mùa đông nhiệt độ xuống thấp, kết hợp với độ ẩm không khí cao làm cơ thể trâu bò tốn nhiều năng lượng để chống lạnh, sức đề kháng giảm; tạo cơ hội cho vi sinh vật gây bệnh xâm nhập. Còn mùa nóng thường ảnh hưởng lớn đến trâu, bò do phải chịu tác động của nền nhiệt độ cao làm giảm thu nhận thức ăn, giảm sức đề kháng.

*

Do vậy, người chăn nuôi cần có những biện pháp để bảo vệ đàn vật nuôi của mình, phòng tránh các bệnh thường gặp ở trâu bò sau đây:


Mục lục


Các bệnh thường gặp ở trâu bò vào mùa hèCác bệnh thường gặp ở trâu bò vào mùa đông

Các bệnh thường gặp ở trâu bò vào mùa hè

Bệnh tiên mao trùng (kí sinh trùng đường máu)

Triệu chứng: Trâu, bò bị bệnh sẽ đi lại khó khăn, kén ăn, phân lỏng, viêm mạc mắt nhợt nhạt, thể trạng yếu nhưng vẫn ăn cỏ. Có khi sốt 40 – 41oC, nhưng có cơn sốt gián đoạn, không theo quy luật. Thường thì bệnh kéo dài hàng tháng, con vật nếu không chết thì sự hồi phục cũng chậm chạp và kéo dài.

Cách điều trị: Chú ý phát hiện bệnh sớm và chữa trị kịp thời, kết hợp 3 biện pháp sau: Dùng thuốc diệt ký sinh trùng như Phenoltridinium Naganin; Cho trâu, bò ăn đầy đủ cỏ tươi, hỗn hợp tinh, bổ sung khoáng và vitamin; Tăng cường vệ sinh chuồng trại và môi trường xung quanh, tiêu diệt ruồi trâu và mòng.

Bệnh tiêu chảy

Triệu chứng: Bệnh thường bị ở bê, nghé nhiều hơn trâu, bò trưởng thành; Khi mắc bệnh ở giai đoạn đầu vật nuôi thường mệt mỏi, ăn kém, uống nước nhiều, đi phân lỏng có màu xám vàng hoặc xám xanh có mùi tanh khó chịu.

Khi bị nặng, bê, nghé phân toàn nước, đôi khi có máu, mất nước, mất muối trong cơ thể và chết do kiệt sức; Nếu điều trị không kịp thời, tỷ lệ bê, nghé chết từ 30 – 40%, do đó cần phát hiện bệnh sớm để có biện pháp điều trị.

*

Cách điều trị: Ngoài dùng thuốc Atropine tiêm theo liều 1ml/15 – 20kg thể trọng, trường hợp bị nặng phải truyền dung dịch nước đường đẳng trương hoặc nước muối sinh lý vào tĩnh mạch cho bê, nghé theo liều 0,5 – 0,8 lít/ bê, nghé.

Ngoài ra, kết hợp sử dụng 300g lá ổi hoặc lá phèn đen + 1 lít nước rồi đun sôi cho bê, nghé uống 1 – 2 lần/ngày, mỗi lần từ 0,2 – 0,5 lít.

Bệnh tụ huyết trùng là trong số các bệnh thường gặp ở trâu bò

Nguyên nhân: Đây là bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn tụ huyết trùng gây ra. Vi khuẩn có sẵn trong đất, dễ phát tán vào mùa mưa, dính vào rơm, cỏ hoặc trôi theo nguồn nước; trâu, bò mắc bệnh do ăn phải thức ăn hoặc uống phải nước bị nhiễm khuẩn.

Có thể một số trâu, bò mang mầm bệnh nhưng chưa biểu hiện bệnh. Gặp các điều kiện bất lợi như thiếu thức ăn, nước uống, thời tiết thay đổi đột ngột, lạnh mưa rét, gia súc làm việc quá nặng nhọc, sức đề kháng kém thì vi khuẩn tăng cường độc lực, xâm nhập vào máu gây bệnh.

Triệu chứng: Trâu bò thường mắc bệnh tụ huyết trùng ở 3 thể: thể quá cấp tính, thể cấp tính và thể mãn tính.

Thể quá cấp: trâu bò đột nhiên sốt cao,hung dữ, bệnh phát rất nhanh và chúng có thể chết sau 24 giờ. Trâu bò chết đột ngột ngay trên bãi chăn hoặc trong chuồng, không có biểu hiện triệu chứng lâm sàng.

*

Thể cấp tính: bệnh tiến triển trong 3 – 5 ngày, tỷ lệ chết rất cao, 90 – 100%. Sau thời kỳ nung bệnh 1 – 3 ngày, con vật có biểu hiện không nhai lại, sốt cao đột ngột, khó thở và thở mạnh do viêm màng phổi, viêm phổi cấp tính. Lúc sắp chết, thấy bò nằm liệt, khó thở, có nhiều chấm xuất huyết đỏ sẫm ở các niêm mạc. Nếu bệnh chuyển sang nhiễm trùng máu thì con vật chết nhanh trong 24 – 36 giờ.

Thể mãn tính: xuất hiện ở những con mắc bệnh thể cấp tính không chết, bệnh sẽ chuyển thành mãn tính. Bệnh biểu hiện với các triệu chứng: viêm ruột mãn tính (lúc ỉa chảy, lúc táo bón), viêm phế quản và viêm phổi mãn tính, viêm khớp và con vật đi lại khó khăn, giảm ăn, gầy nhanh.

Xem thêm: Cách Lập Kế Hoạch Làm Việc Trong Tuần, Tháng Chi Tiết, Có Link Tải Chuẩn

Phòng bệnh: Thường xuyên vệ sinh chuồng trại, tiêu độc, tẩy uế chuồng trại bằng nước vôi 10% hoặc bằng các thuốc sát trùng; khơi thông cống rãnh quanh chuồng, bãi chăn để hạn chế sự tồn tại của mầm bệnh trong tự nhiên.

Khi có dịch xảy ra cần phát hiện kịp thời những con ốm để cách ly và điều trị; trâu, bò chết phải chôn sâu, đổ vôi bột vào hố chôn, tẩy uế chuồng trại, bãi chăn, ủ phân có trộn vôi bột để tiêu diệt mầm bệnh.

Tiêm phòng vắc xin tụ huyết trùng cho trâu bò 6 tháng/lần; tiêm phòng vào tháng 3 – 4 và tháng 9 – 10 trước khi giao mùa.

Tăng cường chăm sóc, nuôi dưỡng và vệ sinh phòng bệnh nhất là trong lúc giao mùa và trời lạnh giá, mưa rét.

*

Điều trị: Do đặc điểm bệnh thường xảy ra ở dạng cấp tính nên cần phát hiện sớm, cách ly và điều trị kịp thời mới hiệu quả.

Điều trị bằng kháng sinh Streptomycin, Kanamycin, liều lượng theo hướng dẫn của nhà sản xuất.

Con vật sốt cao tiêm thuốc hạ sốt, tăng cường trợ sức trợ lực; con vật quá yếu, bỏ ăn cần truyền huyết thanh, tăng cường chăm sóc, dinh dưỡng.

Các bệnh thường gặp ở trâu bò vào mùa đông

Bệnh viêm phổi ở Trâu, Bò

Triệu trứng: Bê non dưới 1 năm tuổi mắc bệnh với tỷ lệ cao và nặng hơn ở bò trưởng thành. Thời gian ủ bệnh từ 3 – 7 ngày. Sau thời gian đó có các biểu hiện mệt mỏi, ăn kém và sốt cao, thường 40 – 42 độ C, sốt liên tục trong quá trình mang bệnh.

Trâu bò bị chảy nước mắt, nước mũi liên tục và tình trạng khó thở ngày tăng dần. Bê con bị bệnh nằm một chỗ, ngóc cổ thở mạnh, nhanh và khó khăn. Bệnh nặng sẽ xuất hiện chảy mủ từ mũi con vật, ho khạc từng cơn. Những cơn ho này xảy ra nhiều vào đêm khuya và sáng sớm.

Do tổn thương phổi, việc tiếp nhận dưỡng khí khó khăn (thiếu dưỡng khí trong máu) nên niêm mạc mắt, miệng của trâu, bò bị bệnh thấy đỏ sẫm, xung huyết, sau đó là tím tái.

Khi bị bệnh, bê con bị chết tỷ lệ cao 60 – 70% số bị bệnh. Khi chuyển thành bệnh mãn tính sẽ kéo dài hàng tháng.

Phòng bệnh: Không thay đổi khẩu phần quá đột ngột, bổ sung thức ăn tinh. Bổ sung vitamin, muối khoáng để tăng cường sức đề kháng cho bò. Cách ly gia súc với nguồn lây truyền bệnh, tránh mượn dụng cụ ở các trại chăn nuôi khác.

Khi có nguy cơ phát triển thành dịch, tiêu độc mỗi ngày 1 lần (liên tục 3 – 7 ngày), định kỳ tiêu độc mỗi tuần hoặc 2 – 3 – 4 tuần/lần.

Tiêm phòng lần đầu khi bò trên 4 tháng tuổi, liều thứ 2 sau đó 4 tuần, tái chủng 6 tháng/lần. Chú ý kiểm tra ký sinh trùng (nội, ngoại ký sinh) bằng cách tẩy giun sán định kỳ.