BỆNH LÝ LÂY TRUYỀN QUA QUAN HỆ TÌNH DỤC

      34

Nếu không được điều trị kịp thời và đúng phác đồ, bệnh lây qua đường tình dục sẽ để lại hậu quả nghiêm trọng và lâu dài cho sức khỏe. Bệnh thường xuất hiện ở người trong độ tuổi sinh sản, diễn biến âm thầm, khó điều trị, dễ tái phát nên mỗi người cần có biện pháp phòng tránh để bảo vệ chính mình và người thân một cách hiệu quả.

Bạn đang xem: Bệnh lý lây truyền qua quan hệ tình dục

*


Nội dung bài viết

Dấu hiệu khi mắc bệnh tình dục11 căn bệnh lây qua đường tình dục phổ biếnCách điều trị

Bệnh lây qua đường tình dục là gì?

Bệnh lây qua đường tình dục (Sexually Transmitted Diseases – STDs) là những bệnh mắc phải khi quan hệ tình dục, bao gồm quan hệ qua cơ quan sinh dục, hậu môn và bằng miệng. Vi khuẩn, virus hoặc ký sinh trùng mang mầm bệnh có thể truyền từ người này sang người khác qua tinh dịch, dịch âm đạo và các dịch tiết khác của cơ thể. Bệnh cũng có thể lây truyền từ mẹ sang con khi mang thai, sinh nở hoặc qua truyền máu hay dùng chung kim tiêm. (1)

Hiện nay, các nhà khoa học ghi nhận được có khoảng 20 loại bệnh STDs. Bệnh có số lượng người nhiễm rất lớn, nhất là người trong độ tuổi sinh sản, khó điều trị khỏi hoàn toàn, ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống như gây ra các hội chức đau vùng chậu mạn tính, viêm đường sinh dục, về sau này có thể dẫn đến vô sinh.

Dấu hiệu khi mắc bệnh tình dục

Đặc điểm của các bệnh lây qua đường tình dục là không gây ra triệu chứng rõ ràng nên người bệnh thường không biết mình có bệnh và dễ lây lan cho người khác. Theo các chuyên gia Nam học, Hệ thống BVĐK Tâm Anh, tùy vào loại bệnh, giai đoạn, tình trạng sức khỏe của từng người mà biểu hiện của các bệnh lây truyền qua đường tình dục có thể khác nhau. (2)

Ở nam giới

Đau hoặc khó chịu khi quan hệ tình dục Tiểu khó, tiểu buốt Có vết loét, vết sưng hoặc phát ban ở trên hoặc xung quanh dương vật, tinh hoàn, hậu môn, mông, đùi, miệng… Tiết dịch bất thường hoặc chảy máu từ dương vật Sưng đau tinh hoàn Đau, sưng hạch bạch huyết, đặc biệt là ở bẹn, đôi khi lan rộng hơn

Ở nữ giới

Đau rát, khó chịu khi quan hệ tình dục Tiểu khó, tiểu buốt Xuất hiện vết loét, sưng tấy hoặc phát ban ở khu vực âm đạo, quanh hậu môn, mông, đùi, miệng… Âm đạo tiết dịch bất thường hoặc chảy máu, có mùi bất thường Ngứa bên trong hoặc xung quanh âm đạo Sốt cao Đau bụng dưới

*

Triệu chứng của các bệnh lây truyền qua đường sinh dục có thể không rõ ràng hoặc rất dễ nhầm lẫn với các bệnh lý khác. Người bệnh nên đến bệnh viện ngay, nếu nhận thấy dấu hiệu bệnh nêu trên hoặc xác định là đã tiếp xúc với người bệnh.

11 căn bệnh lây qua đường tình dục phổ biến

Số liệu mới nhất của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cho thấy, mỗi ngày trên thế giới có hơn 1 triệu người mắc phải các bệnh lây qua đường sinh dục (3). Phổ biến nhất là các bệnh dưới đây:

1. Chlamydia

Bệnh được gây ra bởi vi khuẩn Chlamydia trachomatis và lây nhiễm cho cả nam lẫn nữ. Tương tự như các bệnh tình dục khác, chàm Chlamydia thường không gây ra bất kỳ triệu chứng nào, nhưng người bị nhiễm vẫn có thể truyền bệnh cho người khác.

Bệnh được xác định thông qua các xét nghiệm nước tiểu, dịch tiết âm đạo. Người bệnh sẽ được điều trị bằng thuốc kháng sinh một lần hoặc dùng thuốc liên tục trong 7 ngày. Để tránh lây bệnh cho bạn tình, bác sĩ sẽ khuyến cáo người bệnh kiêng quan hệ tình dục cho đến khi khỏi hẳn.

Các bệnh nhiễm trùng rất dễ tái phát. Vì vậy, người có bệnh chàm Chlamydia nên đi xét nghiệm lại khoảng 3 tháng sau khi điều trị.

2. Bệnh lậu

Vi khuẩn gây bệnh lậu là Neisseria gonorrhoeae, một song cầu Gram (-) hạt cà phê, với đường lây nhiễm qua đường sinh dục, đường miệng hoặc hậu môn. Phụ nữ mang thai mắc bệnh lậu cũng có thể truyền sang con trong quá trình sinh nở.

Bệnh lậu có thời gian ủ bệnh ngắn khoảng 2-7 ngày. Ở nam giới, nhiễm lậu cầu không triệu chứng rất ít gặp (3% – 5%). Bệnh lậu có thể gây đau khi đi tiểu, chảy mủ từ dương vật. Nếu không được điều trị, bệnh sẽ gây ra các vấn đề với tuyến tiền liệt và tinh hoàn. Ở phụ nữ, 70% các trường hợp có mầm móng lậu cầu nhưng không có triệu chứng. Triệu chứng ban đầu thường nhẹ hơn, nhưng nếu không được điều trị cũng có thể dẫn đến biến chứng nguy hiểm như viêm vùng chậu, vô sinh, sẩy thai…

Bệnh có thể phối hợp với các tác nhân khác như : Chlamydia Trachomatis, trùng roi Ureaplasma, mycoplasma… Bệnh lậu sẽ được điều trị bằng thuốc kháng sinh, nhưng có khả năng tái phát cao do các chủng vi khuẩn kháng thuốc ngày càng gia tăng.

3. Giang mai

Giang mai cũng là một bệnh lây qua đường tình dục do xoắn khuẩn giang mai Treponema pallidum gây ra, lây nhiễm sang vùng sinh dục, môi, miệng hoặc hậu môn của cả nam và nữ. Bệnh trải qua ba giai đoạn, nhưng có khoảng 50% người bệnh không có triệu chứng và chỉ được chẩn đoán bằng huyết thanh.

Ở giai đoạn đầu, bệnh giang mai thường gây ra một vết loét nhỏ, không đau, đôi khi gây sưng ở các hạch bạch huyết gần đó. Nếu không được điều trị, bệnh thường gây phát ban trên da không ngứa trên bàn tay và bàn chân. Bệnh giang mai gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm, thậm chí là có thể gây tử vong.

Bệnh giang mai có thể chữa khỏi bằng thuốc kháng sinh, nếu được phát hiện sớm. Tuy nhiên, chìa khóa để tránh mắc bệnh là sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục, tránh quan hệ qua đường hậu môn hoặc miệng.

4. Bệnh Trichomonas vaginalis

Bệnh Trichomonas là một trong những bệnh lây truyền qua đường tình dục phổ biến, do một loại ký sinh trùng gây ra. Bệnh lây lan từ người này sang người khác thông qua quan hệ tình dục và nhiều người gần như không có bất kỳ triệu chứng nào. Nếu có, các triệu chứng sẽ xuất hiện trong khoảng 5-28 ngày sau khi bị lây nhiễm.

Ở phụ nữ, bệnh gây ra các triệu chứng tiết dịch âm đạo màu vàng xanh, xám; đau khi quan hệ tình dục hay đi tiểu; âm đạo có mùi hôi và ngứa rát… Ở nam giới, bệnh gây ngứa hoặc kích ứng bên trong dương vật, nóng rát sau khi đi tiểu hoặc xuất tinh, tiết dịch từ dương vật… Nhiễm Trichomonas có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh hoặc bị lây lan các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác. Phụ nữ mang thai bị nhiễm trùng roi trichomonas thường dễ sinh con quá sớm và bé có nguy cơ bị nhẹ cân khi sinh ra.

5. Bệnh herpes sinh dục

Bệnh mụn rộp sinh dục (genital herpes) là một bệnh lây truyền qua đường sinh dục do virus Herpes gây nên. Biểu hiện lâm sàng là hồng ban mụn nước, mọc thành chùm tại bộ phận sinh dục và có hạch vùng trong một số trường hợp. Bệnh có khả năng tái phát cao ở vị trí cũ hoặc ở một số vị trí khác. Virus gây bệnh là Herpes simplex (HSV), thường gặp type 2 nhiều hơn type 1.

*

Bệnh không có triệu chứng rõ rệt nên thường chỉ có thể nhận biết qua các đợt bùng phát. Người bệnh bị lở loét gần khu vực mà virus đã xâm nhập vào cơ thể. Các vết loét biểu hiện dưới dạng mụn nước, khi vỡ ra gây đau đớn.

Triệu chứng nhiễm mụn rộp sinh dục có thể nghiêm trọng hơn ở trẻ sơ sinh hoặc người có hệ miễn dịch kém.

Các đợt bùng phát bệnh thường lặp đi lặp lại nhiều lần và đặc biệt phổ biến trong năm đầu tiên nhiễm bệnh và sẽ tồn tại trong cơ thể người bệnh suốt đời. Hiện nay, thuốc chỉ có thể giúp giảm bớt các triệu chứng và giảm nguy cơ truyền virus cho người khác, không thể chữa khỏi hoàn toàn.

6. Sùi mào gà

Sùi mào gà là một bệnh lây truyền qua đường tình dục phổ biến do virus Human Papillomavirus (HPV) gây ra. Bệnh xuất hiện ở cả nam giới và nữ, nhưng phổ biến ở nữ hơn do môi trường âm đạo thuận lợi cho vi khuẩn phát triển. Biến chứng của bệnh sùi mào gà rất phức tạp. Ở phụ nữ mang thai, bệnh gây sảy thai, thai chết lưu hoặc sinh non. Thai nhi cũng có nguy cơ mắc bệnh sau khi sinh hoặc nhiễm bệnh khi bú mẹ. Thậm chí, sùi mào gà còn gây nhiều biến chứng như ung thư cổ tử cung, ung thư dương vật… dẫn tới vô sinh, hiếm muộn hoặc tử vong.

Khi xuất hiện bên trong cơ thể, virus ẩn náu tại lớp biểu mô thuộc tầng dưới cùng của da và không có triệu chứng cơ năng; các triệu chứng ngứa, bỏng, đau, xuất huyết hiếm gặp. Ở nữ giới có thể có tiết dịch âm đạo do viêm nhiễm.

Virus HPV sau khi sau xâm nhập vào cơ thể sẽ có thời gian ủ bệnh vài tháng đến vài năm. Bệnh có triệu chứng như nổi các nốt hay sẩn nhỏ, u nhú màu hồng hoặc trắng hồng. Kích thước ban đầu từ 1 – 2 mm, rồi tiến triển to dần, sùi lên tạo thành các khối to giống bông cải hoặc như mào con gà, thường không đau.

Xem thêm: Tìm hiểu thủ tục và văn khấn tết đoan ngọ mới nhất

Mật độ thường mềm, bề mặt sần sùi. Khối u nhú này có tính chất khô hoặc ẩm ướt, dịch có mùi hôi do bội nhiễm. Có khi chỉ có một vài tổn thương riêng lẻ nhưng thường tập trung thành từng đám. Ở nam giới, vị trí xuất hiện thường gặp ở quy đầu, rãnh quy đầu, mặt trong bao quy đầu, vùng dây thắng, thân dương vật, da bìu, bẹn, mông, đùi. Tổn thương cũng có thể xảy ra bên trong lỗ sáo, niệu đạo; ống hậu môn hay quanh hậu môn; niêm mạc miệng.

7. U nhú sinh dục

Virus gây u nhú sinh dục là Human Papillomavirus, lây lan chủ yếu qua quan hệ tình dục trực tiếp với người có virus hoặc qua các tiếp xúc da kề da, thân mật khác. Bệnh gây tiến triển quá mức các tế bào vảy ở lớp biểu bì gây ra u nhú sinh dục tại cả nam và nữ. Gai sinh dục gồm 4 lớp: lớp sừng, lớp gai, lớp tinh và lớp đáy.

Hầu hết các trường hợp nhiễm u nhú sinh dục sẽ tự biến mất và không gây biến chứng. Nhưng cũng có rất nhiều trường hợp gây nhiễm trùng kéo dài, dẫn đến thay đổi tế bào. Nếu những thay đổi này không được điều trị sẽ chuyển biến xấu đi theo thời gian và trở thành ung thư.

Khi đã nhiễm HPV thì không thể điều trị được. Người bệnh có thể được chỉ định đốt lạnh, đốt nóng, làm thủ thuật cắt bỏ, dùng thuốc hoặc một số biện pháp điều trị dành cho tế bào nhiễm virus HPV có nguy cơ ung thư cao.

8. Rận mu

Rận mu (hay càng cua) là loài ký sinh trùng nhỏ, thường sống ở vùng mu hoặc bộ phận sinh dục của con người. Đôi khi chúng cũng được tìm thấy trên các vùng có lông khác của cơ thể. Chúng cần hút máu người để tồn tại và di chuyển bằng cách bò. Rận mu thường lây lan qua quan hệ tình dục, tiếp xúc vật lý hoặc qua quần áo, giường, khăn trải giường, khăn tắm mà người bị rận mu sử dụng.

Triệu chứng phổ biến nhất của bệnh rận mu là ngứa dữ dội ở vùng sinh dục. Người bệnh có thể nhìn thấy trứng rận hoặc rận đang bò. Phương pháp điều trị chính cho rận mu là dùng kem diệt rận.

9. HIV/AIDS

HIV là viết tắt của virus gây suy giảm miễn dịch ở người, do hai virus là Lentivirus xâm nhiễm. Theo thời gian, chúng phát triển thành Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS) khiến cho hệ thống miễn dịch của người bệnh bị phá hủy. Cơ thể vì vậy không có khả năng chống lại các tác nhân gây hại, khiến cho nhiễm trùng và một số bệnh ung thư phát triển. Không phải tất cả người nhiễm HIV đều phát triển thành AIDS.

Bệnh lây lan theo nhiều cách khác nhau, bao gồm quan hệ tình dục không an toàn với người nhiễm HIV, lây qua đường máu, dùng chung kim tiêm hay từ mẹ mang thai truyền sang con…Hiện nay vẫn chưa có cách chữa khỏi nhiễm HIV, nhưng người bệnh có thể được điều trị bằng thuốc kháng virus (ART) và đồng thời làm giảm nguy cơ lây lan cho người khác.

10. Bệnh hạ cam mềm

Bệnh do một loại trực khuẩn có tên Haemophilus ducreyi gây ra. H.ducreyi là một trực khuẩn ngắn, mảnh, gram (-) với đầu tròn. Hạ cam mềm đăng trưng bởi sẹo lồi, loét đau, và sưng các hạch bạch huyết vùng bẹn dẫn đến mưng mủ. Hạ cam mềm giống các bệnh STDs khác gây loét sinh dục, nó cũng làm tăng nguy cơ lây truyền HIV.

Sau giai đoạn ủ bệnh từ 3-7 ngày, các nốt nhỏ, đau xuất hiện và nhanh chóng vỡ ra thành những loét loét nông, mềm, đau với rìa xù xì, xói mòn (ví dụ với mô nằm cao) và đường viền màu đỏ. Sự xói mòn sâu thỉnh thoảng dẫn đến việc phá hủy mô. Các hạch bạch huyết to lên và bắt đầu trở nên nhạy cảm, sau đó kết hợp với nhau tạo thành ổ áp-xe. Vùng da ở vị trí này có thể trở nên đỏ và sáng bóng và có thể vỡ ra thành lỗ rò. Tình trạng nhiễm trùng có thể lây lan sang các vùng da khác, dẫn đến các thương tổn mới. Hẹp bao quy đầu, hẹp niệu đạo và lỗ rò niệu đạo có thể là kết quả của căn bệnh này.

Phương pháp chẩn đoán thường chỉ dựa trên kết quả khám lâm sàng bởi vì việc nuôi cấy vi khuẩn rất khó khăn và việc nhận biết hiển vi bị nhiễu loạn bởi hệ khuẩn hỗn hợp ở loét. Người bệnh cũng cần được làm xét nghiệm huyết thanh học cho bệnh giang mai và HIV và cấy tìm Herpes để loại trừ các nguyên nhân khác của loét sinh dục. Việc điều trị bệnh hạ cam mềm cần được tiến hành sớm bằng kháng sinh.

11. Viêm gan B

Virus viêm gan B gây bệnh ở gan, nhưng lây qua dịch sinh dục và qua máu. Đặc biệt, virus này lây nhanh hơn virus HIV từ 50-100 lần khi quan hệ tình dục. Người nhiễm virus viêm gan B thường không có biểu hiện cụ thể. Một số trường hợp có những triệu chứng như vàng da, chán ăn, mệt mỏi… Bệnh không được chăm sóc tốt có thể dẫn đến viêm gan mạn tính, xơ gan và ung thư gan… Hiện tại không có biện pháp chữa khỏi hoàn toàn, chỉ có thuốc khống chế khả năng hoạt động của virus. Tuy nhiên, mỗi người vẫn có cách phòng bệnh hiệu quả bằng cách tiêm vắc xin.

Quan hệ tình dục an toàn giúp phòng tránh các căn bệnh STDs

Nguyên nhân gây bệnh tình dục

Theo các chuyên gia Nam học, Hệ thống BVĐK Tâm Anh, có rất nhiều nguyên nhân gây ra bệnh lây qua đường tình dục. Cụ thể như:

Vi khuẩn: Bệnh lậu, bệnh giang mai và bệnh Chlamydia là những ví dụ điển hình về bệnh lây truyền qua đường tình dục do vi khuẩn gây ra. Vi khuẩn có khả năng sinh sản nhanh chóng và thải ra chất độc làm hư hỏng mô, tấn công cơ thể người bệnh. Virus: Các bệnh lây truyền qua đường tình dục do virus gây ra bao gồm HPV, mụn rộp sinh dục và HIV. Virus là những vi trùng rất nhỏ, xâm nhập vào các tế bào khỏe mạnh, sử dụng các tế bào đó để nhân lên. Virus có thể giết chết, làm hỏng hoặc thay đổi cấu trúc tế bào và gây bệnh cho con người.

*

Các yếu tố có thể làm tăng nguy cơ mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục bao gồm:

Quan hệ tình dục không an toàn: Việc quan hệ tình dục nhưng không dùng hoặc dùng bao cao su không đúng cách làm tăng đáng kể nguy cơ mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục. Quan hệ tình dục bằng miệng có ít rủi ro hơn, nhưng vẫn có thể bị lây bệnh nếu có vết thương hở. Có nhiều bạn tình: Người càng có quan hệ tình dục với nhiều người càng có nguy cơ mắc bệnh cao hơn do tiếp xúc với nhiều nguồn nguy hiểm. Người có tiền sử mắc các bệnh tình dục: Các bệnh này rất dễ bị lây nhiễm và tái phát nhiều lần trong đời, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh. Lạm dụng rượu, thuốc kích thích: Việc sử dụng các chất này có thể ức chế khả năng phán đoán, khiến người ta sẵn sàng tham gia vào các hành vi tình dục có nguy cơ cao. Dùng chung kim tiêm: Người thường dùng chung kim tiêm, vật dụng cá nhân của người khác rất dễ nhiễm bệnh bao gồm viêm gan B, viêm gan C và bệnh lây qua đường tình dục. Người trẻ tuổi: Người có sinh hoạt tình dục càng sớm càng có nguy cơ nhiễm bệnh cao hơn. Cụ thể như người trong độ tuổi từ 15- 24. Lây truyền từ mẹ sang con: Một số bệnh lây truyền qua đường tình dục có thể truyền từ mẹ sang con khi mang thai hoặc sinh nở, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của trẻ sơ sinh, thậm chí có thể gây tử vong.

Phương pháp chẩn đoán

Để đưa ra phác đồ điều trị chính xác, hiệu quả, bác sĩ cần thực hiện một số biện pháp thăm khám lâm sàng và chẩn đoán cận lâm sàng như:

Hỏi tiền sử bệnh Xét nghiệm máu Xét nghiệm nước tiểu Xét nghiệm dịch tiết

Biến chứng của bệnh lây truyền qua đường tình dục

Bệnh lây truyền qua đường tình dục rất dễ lây nhiễm, khó chữa khỏi, dễ tái phát và có thể để lại nhiều biến chứng nguy hiểm. Cụ thể như:

Gặp biến chứng thai kỳ: Phụ nữ mang thai có thể sảy thai, sinh non và truyền bệnh cho trẻ sơ sinh khi mang thai, sinh nở hoặc cho con bú. Đau xương chậu mạn tính: Đau dữ dội, đau thành từng cơn, nặng nề sâu trong vùng chậu có thể do bệnh lây qua đường tình dục gây ra. Bệnh về mắt: Các bệnh sùi mào gà, giang mai có thể gây bệnh cho nhãn cầu, viêm kết mạc, viêm màng bồ đào, viêm võng mạc, viêm thượng củng mạc… dẫn đến bệnh mắt mạn tính và dễ gây mù lòa. Bệnh xương khớp: Một số loại vi khuẩn gây bệnh lây truyền qua đường tình dục, điển hình như lậu cầu, có thể gây viêm khớp, phân lập dịch khớp. Người bệnh sẽ có biểu hiện viêm khớp cấp tính, tràn dịch khớp, hạn chế vận động… Bệnh tim mạch: Người nhiễm bệnh đường tình dục rất dễ mắc bệnh tim mạch do vi sinh vật đi vào máu và tấn công tim. Vô sinh: Các bệnh lây qua đường sinh dục có thể làm tổn thương cơ quan sinh dục nam và nữ như: viêm tinh hoàn, viêm buồng tử cung, viêm tắc ống dẫn trứng… ảnh hưởng đến khả năng sinh sản, thậm chí là gây vô sinh. Ung thư: Một số loại ung thư ở cổ tử cung, trực tràng, dương vật có liên quan đến virus HPV.

Cách điều trị

Tùy thuộc vào loại bệnh lây truyền qua đường tình dục mắc phải mà người bệnh được khuyến nghị điều trị bằng nhiều hình thức khác nhau. Điển hình như:

Điều trị bằng thuốc kháng sinh

Thuốc kháng sinh có thể được chỉ định để điều trị bệnh lây nhiễm do nguyên nhân vi khuẩn như giang mai, lậu, trichomonas… Người bệnh cần phải tuân thủ phác đồ và kiêng quan hệ tình dục trong thời gian điều trị để đạt hiệu quả tốt nhất.

Điều trị bằng thuốc kháng virus

Với các loại virus như HPV, người bệnh sẽ không được chỉ định dùng kháng sinh, mà dùng thuốc kháng virus. Khi dùng thuốc này, người bệnh vẫn có thể lây truyền bệnh cho người khác nên cần phải tuân thủ chỉ dẫn điều trị và cần được xét nghiệm lại để đánh giá hiệu quả.

Điều trị bằng thủ thuật, phẫu thuật

Một phương pháp khác để điều trị bệnh lây qua đường tình dục là dùng thủ thuật, phẫu thuật. Cụ thể, người bệnh có thể được đốt điện, áp nitơ lỏng, đốt bằng tia laser… các vùng da có virus để tiêu diệt mầm bệnh từ sâu bên trong.

Điều trị dự phòng cho bạn tình

Bệnh lây truyền qua đường tình dục rất dễ tái phát, nhất là khi người bạn tình không được điều trị cùng lúc với người bệnh. Do đó, người bệnh nên thông báo với bạn tình về tình trạng bệnh để họ được kiểm tra, xét nghiệm. Đồng thời, họ cũng cần được điều trị đồng thời với người bệnh để ngăn ngừa nguy cơ tái nhiễm.

Phòng tránh

*

Các chuyên gia Nam học cho rằng, tuy bệnh STDs có tốc độ lây lan nhanh, dễ tái phát nhưng chúng ta vẫn một số cách để tránh hoặc giảm nguy cơ mắc bệnh. Cụ thể, các chuyên gia khuyên bạn nên: (4)

Kiêng cữ: Cách tốt nhất để tránh nhiễm bệnh là kiêng quan hệ tình dục, nhất là khi còn trẻ tuổi, tránh quan hệ với người chưa được kiểm tra nguy cơ nhiễm bệnh. Chung thủy: Duy trì một mối quan hệ lâu dài, chung thủy là một trong những cách ngăn ngừa nguy cơ nhiễm bệnh hiệu quả. Xét nghiệm trước khi quan hệ tình dục: Tránh quan hệ với bạn tình mới cho đến khi cả hai bạn đã được xét nghiệm về các bệnh lây qua đường tình dục. Quan hệ tình dục bằng miệng ít rủi ro hơn, nhưng nên sử dụng miếng dán để ngăn tiếp xúc da kề da giữa niêm mạc miệng và bộ phận sinh dục. Tiêm phòng: Mỗi người nên tiêm phòng sớm, trước khi có tiếp xúc tình dục sẽ mang lại hiệu quả cao hơn trong việc ngăn ngừa bệnh. Có vắc xin có thể giúp ngăn ngừa vi rút u nhú ở người (HPV), viêm gan A và viêm gan B. Sử dụng bao cao su: Dùng bao cao su một cách nhất quán và đúng cách khi quan hệ tình dục mang đến khả năng bảo vệ tích cực khỏi nguy cơ bị lây hoặc lây bệnh cho người khác. Không uống rượu quá mức hoặc sử dụng chất kích thích: Biện pháp này giúp bạn không đối diện với các rủi ro khi quan hệ tình dục. Xây dựng lối sống lành mạnh: Một lối sống khoa học sẽ giúp tăng cường sức đề kháng, giúp mỗi người dự phòng nguy cơ nhiễm bệnh và tăng khả năng chống lại các bệnh truyền nhiễm một cách tích cực.

Trung tâm Tiết niệu Thận học, Khoa Nam học – Tiết niệu của Hệ thống BVĐK Tâm Anh quy tụ đội ngũ các chuyên gia đầu ngành, Nội khoa và Ngoại khoa, giỏi chuyên môn, tận tâm.

Nhà giáo nhân dân GS.TS.BS Trần Quán Anh, Thầy thuốc ưu tú PGS.TS.BS Vũ Lê Chuyên là những cây đại thụ trong ngành Tiết niệu Thận học Việt Nam. Cùng với các tên tuổi Thầy thuốc ưu tú TS.BS Nguyễn Thế Trường Thầy thuốc ưu tú BS.CKII Tạ Phương Dung, TS.BS Nguyễn Hoàng Đức, TS.BS Từ Thành Trí Dũng, ThS.BS.CKI Nguyễn Đức Nhuận, BS.CKII Nguyễn Lê Tuyên, ThS.BS Nguyễn Tân Cương, ThS.BS Tạ Ngọc Thạch, BS.CKI Phan Trường Nam…

Các chuyên gia, bác sĩ của Trung tâm luôn tự tin làm chủ những kỹ thuật mới nhất, phát hiện sớm và điều trị hiệu quả các bệnh lý về thận và đường tiết niệu, giúp người bệnh rút ngắn thời gian nằm viện, hạn chế nguy cơ tái phát, nâng cao chất lượng cuộc sống.

Với hệ thống máy móc, trang thiết bị hiện đại hàng đầu trong nước và khu vực; Phòng mổ đạt tiêu chuẩn quốc tế; Cùng với khu nội trú và dịch vụ cao cấp 5 sao… Trung tâm Tiết niệu Thận học nổi bật với các dịch vụ thăm khám, tầm soát và điều trị tất cả các bệnh lý đường tiết niệu. Từ các thường gặp cho đến các cuộc đại phẫu thuật kỹ thuật cao. Có thể kể đến phẫu thuật nội soi sỏi thận, ghép thận, cắt bướu bảo tồn nhu mô thận; cắt thận tận gốc; cắt tuyến tiền liệt tận gốc; cắt toàn bộ bàng quang tạo hình bàng quang bằng ruột non; cắt tuyến thượng thận; tạo hình các dị tật đường tiết niệu… Chẩn đoán – điều trị nội khoa và ngoại khoa tất cả các bệnh lý Nam khoa.

Để đặt lịch khám và điều trị bệnh lây qua đường tình dục với các chuyên gia đầu ngành tại Trung tâm Tiết niệu Thận học, Khoa Nam học – Tiết niệu Hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh, quý khách có thể đặt hẹn trực tuyến qua các cách sau đây:

Gửi tin nhắn trên Fanpage Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh hoặc Fanpage Tiết niệu – Nam học BVĐK Tâm Anh Nhắn tin qua Zalo OA của BVĐK Tâm Anh.
thuốc lenvima 4mg