Bệnh Học Viêm Tai Giữa

      25

Viêm tai giữa cấp tính là bệnh thường gặp, nhiều nhất ở trẻ em vào nhiễm khuẩn đường hô hấp trên, nhất là lúc bị sởi, cúm, bạch hầu, ho gà... diễn biến trong thời gian dưới 3 tuần.

Bạn đang xem: Bệnh học viêm tai giữa


Đại cương

Viêm tai giữa cấp tính là bệnh thường gặp, nhiều nhất ở trẻ em vào nhiễm khuẩn đường hô hấp trên, nhất là Khi bị sởi, cúm, bạch hầu, ho gà... diễn biến vào thời gian dưới 3 tuần.

Nếu ko được điều trị kịp thời và đúng phương thơm pháp thì bệnh thường dẫn tới biến chứng nguy hiểm như:

Viêm tai giữa mạn tính.

Viêm tai xương chũm.

Các biến chứng nội sọ như: viêm màng não, áp xe pháo não.

Các biến chững mạch máu: viêm tắc tĩnh mạch bên.

Liêt dây VII ngoại vi.

Phân loại

Viêm tai giữa cấp tính xuất tiết dịch thấm.

Viêm tai giữa cấp tính xung huyết.

Viêm tai giữa cấp tính có mủ.

Viêm tai giữa cấp tính có mủ

Nguyên nhân

Viêm nhiễm cấp tính ở mũi họng.

Xuất hiện sau các bệnh như: cúm, sởi hoặc sau các bệnh nhỏng viêm mũi, viêm mũi, viêm V.A, viêm amidan, u vòm mũi họng.

Nhét mèbịt mũi sau để quá lâu.

Căn uống nguim vi khuẩn: thường vì S. pneumoniae, H. influenzae, M. catarrhalis,

S. aureus.

Sau chấn thương: khiến rách, thủng màng nhĩ nhỏng ngoáy tai bằng vật cứng, chấn thương do tiếng nổ, sức ép...

Triệu chứng

Triệu chứng của viêm tai giữa cấp tính cố kỉnh đổi nhiều tuỳ theo ngulặng nhân gây bệnh, tình trạng cơ thể. Thể điển hình của viêm tai giữa cấp tính có mủ ở trẻ em, diễn biến qua nhị giai đoạn:

Giai đoan khởi phát: chưa có mủ vào hòm nhĩ.

Toàn thân: bệnh nhân trcầu đó mấy ngày sẽ bị viêm mũi họng: chảy mũi và ngạt mũi. Đột nhiên bị sốt cao 39- 400C

Cơ năng: nhức tai, ban sơ ngứa, tức ở tai, sau nhức tai dữ dội, nghe kém.

Thực thể: khám màng nhĩ bị xung huyết đỏ ở góc sau trên hoặc ở dọc cán xương búa hoặc ở vùng màng chùng (Shrapnell).

Giai đoạn toàn phát:

Thường qua nhì thời kỳ: thời kỳ ứ mủ và thời kỳ vỡ mủ.

Thời kỳ ứ mủ (màng nhĩ chưa vỡ):

Triệu chứng cơ năng:

Sốt cao 39C- 400C kéo dài, thể trạng mệt mỏi, khó ngủ, sút cân... có thể co giật, mệt lả.

Rối loạn tiêu hoá là triệu chứng thường gặp, nhất là ở hài nhi: ỉa chảy, sống phân hoặc ói trớ, đầy bụng, kèm theo có rối loạn tiêu hoá: với tỷ lệ 70-80% trẻ nhỏ đi ngoài sống phân và đi nhiều lần, thuốc chống rối loạn tiêu hoá ít có kết quả chỉ khỏi lúc giải quyết nguim nhân viêm tai giữa.

Đau tai: nhức tai dữ dội ngày càng tăng, đau sâu vào tai, đau theo nhịp đập, nhức lăn ra vùng thái dương và sau tai làm cho bệnh nhân ko ngủ được, em bé quấy khóc, bỏ ăn, bỏ bú, trẻ nhỏ vật vã, co giật quấy khóc, tay ngoáy vào tai đau, hoặc lắc đầu.

*

Hình: Ứ mủ vào thùng tai

Triệu xác minh thể:

Khám màng nhĩ: tất cả màng nhĩ nề đỏ, không nhìn thấy cán xương búa, mấu ngắn xương búa và nón sáng. Ở mức độ nặng rộng màng nhĩ phồng lên như mặt kính đồng hồ. Điểm phồng nhất thường khu vực trú ở phía sau.

Khám mũi họng: bệnh nhân đã có viêm mũi họng cấp tính.

Thời kỳ vỡ mủ (màng nhĩ bị vỡ): thường xuất hiện vào ngày thứ 4.

Triệu chứng cơ năng: giảm dần, hết nhức tai, nhiệt độ toàn thân giảm, em bé chịu đùa, hết quấy khóc.

Triệu xác định thể: ống tai đầy mủ, lau sạch thấy lỗ thủng màng nhĩ, lỗ thủng sẽ sự khác biệt tuỳ theo màng nhĩ có được chích rạch giỏi không?

Nếu chích: lỗ thủng sẽ rộng và ở góc sau dưới màng nhĩ sẽ hết phồng.

Nếu ko chích để màng nhĩ tự vỡ thì lỗ thủng có thể ở bất cứ chỗ nào, bờ dày nham nhở.

Chẩn đoán

Dựa vào triệu chứng lâm sàng hai giai đoạn của bệnh.

Biến chứng

Có nhiều biến chứng nguy hiểm như viêm tai xương chũm, viêm tai vào, viêm màng não, viêm não và liệt dây VII ngoại vi...

Điều trị

Tuỳ từng giai đoạn mà có thái độ điều trị phù hợp.

Giai đoạn khởi phát: chủ yếu điều trị mũi, họng.

Chống ngạt tắc mũi: tái lập lại sự thông thoáng của mũi và các lỗ thông mũi xoang để đảm bảo dẫn lưu mang đến các xoang viêm, giảm sự chênh lệch về áp lực giữa vào xoang và hốc mũi.

Làm hết chảy mũi.

Chống viêm nhiễm.

Phòng tái phát viêm mũi xoang.

Xem thêm: Cách Sử Dụng Cây Lạc Tiên (Chùm Bao) Để Có Giấc Ngủ Ngon, Vị Thuốc Chùm Bao Lớn

Cụ thể:

Rỏ mũi: bằng các thuốc co mạch làm đến mũi thông thoáng. Trmong Lúc rỏ mũi cần xì mũi để tống các chất xuất tiết ứ đọng vào mũi (Ephedrin, Napthasolin, dầu Gômênon) ngày rỏ từ 5-10 lần.

Xông thuốc: bằng cách hit hơi ncầu nóng có có thuốc, khá nóng có tác dụng giảm xung huyết niêm mạc mũi, tạo điều kiện mang lại thuốc có thể thấm vào các khe kẽ của mũi và có thể thấm vào xoang qua các lỗ thông mũi xoang. Các thuốc dùng để xông là dầu khuynh diệp, dầu Gômênon, dầu gió thời gian xông từ 5-10 phút.

Khí dung mũi: phải có máy khí dung. Máy tác động phân tán dung dịch thuốc thành những hạt nhỏ (từ 1-10mm) hoà rã vào ko khí. Thuốc chuyển vào cơ thể theo đường khí dung có tác dụng gấp 5 lần so với đường uống hoặc đường tiêm, vì đó dùng liều lượng có thể giảm xuống, khối lượng dùng là 5ml.

Lý liệu pháp: bằng tia hồng ngoại và sóng ngắn

Toàn thân:

Kháng sinch thường được sử dụng là loại gram (+): Amoxilin, Co-trimazole hoặc Erytromycin.

Chống viêm, giảm nhức.

Nâng dỡ cơ thể bằng các loại sinh tố

Tại tai: rỏ tai Glyxerin bôrat 3%, Otipax...

Giai đoạn toàn phát.

Luôn theo dõi và chích màng nhĩ đúng lúc: nếu bệnh nhân đến đã vỡ mủ thì phải làm thuốc tai hàng ngày: vệ sinh sạch mủ và rỏ thuốc kháng sinch kết hợp với điều trị mũi, họng.

Kháng sinch toàn thân.

Chống viêm.

Nâng đỡ cơ thể.

Viêm tai giữa cấp tính xuất tiết dịch thấm

Viêm tai giữa cấp tính dịch thấm ngày càng xuất xắc gặp, ở cả người lớn và trẻ em.

Ngulặng nhân

Do tắc vòi nhĩ: trẻ em thường gặp vày viêm V.A quá phát. Người lớn do gắng đổi áp lực không khí trong hòm nhĩ khi ở bên trên cao hoặc lặn xuống sâu.

Do cơ địa dị ứng, phản ứng quá phát các tổ chức lymphô vùng mũi, họng.

Triệu chứng

Toàn thân: không có hình ảnh hưởng gì tuyệt vời.

Cơ năng:

Đau tai ít gặp, thường có cảm giác tức nhỏng đút nút tai.

Nghe kém rõ rệt, có thể nắm đổi theo bốn thế đầu và có tiếng vang (nghe tiếng nói của mình nỗ lực đổi tương tự nlỗi lúc tự bịt tai rồi nói).

Ù tai tiếng trầm, liên tục gây khó chịu.

Thực thể:

Màng nhĩ lúc đầu đỏ, hơi lõm, có mạch máu nổi rõ, sau đó thấy ngấn ncầu tuyệt bọt ncầu vào hòm nhĩ.

Nghiệm pháp Valsalva âm tính.

Tiến triển và biến chứng

Có thể tự khỏi Khi vòi nhĩ thông trở lại, ko để lại di chứng.

Trở thành mạn tính với dịch trong hòm nhĩ đặc hoặc thành viêm tai giữa xơ dính, với các sợi keo dán giấy làm màng nhĩ dính vào thành vào, hạn chế rung động. Hiện tượng xơ dính có thể lan vào cả tai vào, hạn chế rung động.

Xử trí

Làm thông vòi nhĩ bằng bơm tương đối xuất xắc nong vòi nhĩ.

Chống xơ dính màng nhĩ: rỏ Glyxerin bôrat 2% ấm vài lần trong ngày hoặc Hydrocortison, Alpha-chymotrypxin qua vòi nhĩ vào hòm nhĩ.

Đặt ống thông khí hòm nhĩ ở góc sau dưới màng nhĩ.

Xoa màng nhĩ: dùng bóng cao su lắp đầu ống khít vào ống tai bóp bóng nhẹ làm chuyển động cả màng nhĩ.

Phòng bệnh

Giải quyết các nguim nhân khiến tắc vòi nhĩ như: nạo V.A, điều trị viêm mũi xoang.

Thực hiện các biện pháp phòng hộ: ngậm kẹo, tự thổi hơi, thông vòi nhĩ Khi có vắt đổi áp lực đột ngột đến thợ lặn, làm việc trong giếng chìm, người leo núi, người đi máy bay…

Viêm tai giữa cấp tính xung huyết

Viêm tai giữa cấp tính xung huyết còn gọi là viêm tai giữa cấp tính xuất tiết dịch rỉ, cùng loại viêm tai gữa cấp tính ko có mủ, bệnh này ít Khi được phát hiện vì triệu chứng nghèo nàn và bị các triệu chứng viêm đường hô hấp bên trên che mờ.

Nguyên ổn nhân

Do viêm vòm mũi họng, bệnh giỏi gặp ở trẻ em vì viêm mũi, viêm V.A lan vào vòi nhĩ và làm tắc vòi gây ra xuất tiết hòm nhĩ và tạo điều kiện mang lại vi khuẩn phát lên, cơ mà vi khuẩn có độc tố thấp buộc phải ít đưa đến viêm mủ.

Triệu chứng

Cơ năng:

Đau tai là triệu chứng chính và độc nhất, thỉnh thoảng nhức nhói trong ít phút, đau sâu trong ống tai, đau lan xuống hàm dưới.

Các triệu chứng khác nhỏng ù tai, giảm thính lực thường ko có hoặc có rất ít ko làm đến bệnh nhân để ý.

Toàn trạng nói chung là tuyệt và phụ thuộc vào viêm V.A, viêm mũi, viêm xoang.

Thực thể:

Màng nhĩ hồng rộng bình thường, mạch máu dọc cán xương búa xung huyêt đỏ, màng nhĩ lõm, vào hòm nhĩ có ít dịch.

Bệnh diễn biến vào thời gian ngắn, mỗi lần em bé bị viêm mũi, viêm V.A thì hiện tượng đau xuất hiện trở lại, một số trường hợp bệnh có thể chuyển thành viêm tai giữa cấp tính có mủ.

Điều trị

Tại chỗ rất solo giản: rỏ Glyxerin bôrat 3%, Otipax vào tai 2 giờ lần.

Điều trị nguyên nhân: viêm mũi, viêm xoang mũi bằng rỏ mũi, khí dung mũi xoang, thông vòi nhĩ (nếu có hiện tượng tắc vòi).

Nạo V.A, phẫu thuật chỉnh hình vách ngăn uống, cắt cuốn mũi dưới quá phát…